Talmud in Korean

14 April 2019 | Talmud tập hợp những câu chuyện về sự khôn ngoan của người Do Thái đã được phổ biến rộng rãi tại Hàn Quốc.

Trí tuệ sống và Tiền sống
Trí tuệ kiếm được tiền mới thực sự là trí tuệ. Nếu không tạo ra giá trị thì tích lũy trí tuệ chỉ là con lừa cõng nhiều sách vở mà thôi.

Thái độ đối với tiền bạc cũng phản ánh thái độ đối với cuộc đời và sự nghiệp của con người. Người luôn sống thực tế mới thực sự tạo được nền tảng vững chắc cho tiền đồ của mình. Ngược lại thì khó có thể làm ra của cải.

Kiếm tiền hợp lý mới gọi là thật sự thông minh và khôn ngoan.

Chỉ khi hòa vào trong tiền bạc thì trí tuệ mới là trí tuệ sống. Chỉ khi vào trong trí tuệ thì tiền mới là tiền sống. Trí tuệ sống và tiền sống đều quan trọng như nhau, vì chúng chính là sự kết hợp viên mãn giữa trí tuệ và tiền bạc. Chính quan đểm thống nhất giữa trí tuệ và tiền bạc này khiến thương nhân Do Thái trở thành những người đầy trí tuệ, khiến lý thuyết kinh doanh của họ trở thành lý thuyết kinh doanh có trí tuệ, làm cho người ta ngày càng thông minh, lanh lợi trong quá trình kinh doanh.

Học tập và giáo dục trong gia đình
Để có được tri thức, người Do Thái coi trọng cả việc học chính quy trong nhà trường lẫn tự học. Ai cũng biết rằng trường học là nơi tiếp thu tri thức nền tảng, rất nhiều tri thức chuyên ngành và kỹ thuật thao tác thực tế chỉ có thể được tăng trưởng trên cơ sở học tập thực tiễn hoặc chuyên ngành. Ngoài ra, do điều kiện mỗi người mỗi khác, nên sự giáo dục chính quy của mỗi người cũng khác nhau. Do đó, người Do Thái rất coi trọng kỹ năng tiếp thu tri thức độc lập, từ đó chỉ đạo công việc thực tiễn của mình.

Đối với người Do Thái, tri thức và tiền bạc tỷ lệ thuận với nhau. Người có trải nghiệm phong phú và tri thức nghiệp vụ rộng rãi sẽ đỡ phải đi đường vòng, ít phạm sai lầm trên thương trường. Đó là cơ sở để kiếm tiền, cũng là tố chất cơ bản của thương nhân. Vì vậy, các thương nhân Do Thái thường thích giao dịch với những người có học thức uyên bác.

Người Do Thái quan niệm trong đời người có ba nghĩa vụ, mà nghĩa vụ quan trọng nhất là dạy dỗ con cái. Mục đích là làm cho đời sau biết cách sinh tồn và phát triển trong một xã hội cạnh tranh, tăng cường sức mạnh của bản thân và dân tộc. Đối với vấn đề giáo dục, người Do Thái đã vượt ra khỏi phạm vi tôn giáo và thần học. Họ cho rằng đời sống kinh tế-xã hội đang thay đổi, phát triển ngày càng nhanh, tri thức khoa học ngày một thay đổi, nếu không theo kịp bước phát triển của thời đại thì sẽ bị đào thải. Kinh doanh buôn bán và sự nghiệp khoa học kỹ thuật cũng giống như vậy.

Giáo dục gia đình
Khi ở bên trẻ, cha mẹ có thể không biết giao lưu với trẻ như thế nào, cũng không biết nói chuyện với trẻ ra sao. Bạn có thể giao lưu với trẻ bằng cách sau:

  • Lắng nghe trẻ. Cha mẹ có thể có công việc và rất bận rộn. Để sinh tồn thì điều đó không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, cha mẹ nên bớt chút thời gian lắng nghe chuyện của con trẻ trong một ngày. Cho dù trẻ không chủ động nói với cha mẹ, thì cha mẹ cũng nên gợi chuyện. Đó cũng là cơ hội tốt để bồi dưỡng khả năng giao tiếp ngôn ngữ của trẻ.
  • Khích lệ trẻ. Trẻ khao khát muốn nghe được lời biểu dương hoặc khích lệ. Đó là nhu cầu tâm lý cơ bản nhất của con người. Bậc làm cha mẹ đừng tiếc lời khen trẻ. Dù chỉ là một việc nhỏ cũng nên khen ngợi, khích lệ. Như thế còn có thể bồi dưỡng lòng tự tin cho trẻ, giúp trẻ có được sức mạnh.
  • Thái độ phải tỉnh táo. Rất nhiều bậc cha mẹ vì làm việc cả ngày, mệt nhọc và buồn bực khiến tâm tình không tốt. Khi thấy trẻ làm những chuyện khiến mình bực mình mà tức giận với trẻ thì đó là điều không đúng, cũng không khoa học. Đó là một sự đả kích. Đừng vì những việc nhỏ nhặt mà trách cứ trẻ. Nếu không trẻ có thể từ đó không giao lưu với cha mẹ nữa.
  • Biểu lộ sự hoài nghi của bạn. Nếu trẻ kể những việc trắc trở không như ý, những chuyện cha mẹ thoạt nghe có thể cho là những chuyện nhỏ nhặt, như người khác lấy đồ, ở nhà trả khi ăn cơm cô giáo lấy cái bát trẻ thích cho bạn khác, thì nên bày tỏ sự thấu hiểu, thông cảm để an ủi trẻ. Làm vậy, trẻ sẽ muốn được giao lưu với cha mẹ, chuyện gì cũng nói hết với cha mẹ.

Các chuyên gia giáo dục phương Tây cho rằng: việc có rất nhiều người Do Thái giàu có không chỉ do nỗ lực và phấn đấu của bản thân họ mà còn do từ nhỏ họ đã được bồi dưỡng ý thức về kinh tế. Sự bồi dưỡng ý thức về kinh tế bắt đầu từ khi trẻ lên ba tuổi. Các bậc cha mẹ Do Thái thường lập kế hoạch thích hợp cho từng độ tuổi:

  • 3-4 tuổi: học cách tự nhận biết chúng loại tiền, nhận thức giá trị tiền dưới sự giúp đỡ của cha mẹ.
  • 4-5 tuổi: mua những đồ đơn giản dưới sự giám sát của cha mẹ
  • 5-6 tuổi: dạy cho trẻ biết rằng tiền kiếm được không dễ, muốn có được phải lao động vất vả
  • 6-7 tuổi: có thể đếm đến 1000-5000 USD, biết bỏ ông tiết kiệm tiền, bồi dưỡng ý thức đây là tiền của con
  • 7-8 tuổi: tự xem và hiểu giá trị trên bao bì sản phẩm, có thể tự so sánh với số tiền trong túi mình, phán đoán mình có đủ khả năng mua món hàng đó hay không.
  • 8-9 tuổi: hiểu cách gửi tiền ở ngân hàng, có thể tự làm việc kiếm tiền tiêu vặt như bán báo, đánh giầy, làm việc nhà
  • 9-10 tuổi: biết phân bổ hợp lý tiền trong tay mình, khi đi mua hàng có thể mặc cả với chủ cửa hàng, khi tự bán đồ có thể kiếm từng đồng, học cách giao dịch, không được coi thường giá trị của một đồng tiền.
  • 10-12 tuổi: đích thân trải nghiệm kiếm tiền không phải là một việc dễ dàng, phải có ý thức tiết kiệm nhất định.
  • 12 tuổi trở lên: có thể tham gia vào hoạt động kinh doanh giống như người lớn.

Như thế, ngay từ nhỏ người Do Thái đã có một số tri thức về tiền bạc và phương diện tài chính.

Về dạy học, Talmud viết: “một giáo viên không được dạy quá 25 học sinh. Nếu số học sinh một lớp vượt quá số này thì phải thuê thêm trợ giáo. Họ sinh giỏi, ngồi cạnh học sinh kém để giúp đỡ bạn. Phải khen thưởng hành tích của học sinh, không được trách phạt sai lầm của chúng. Khi giảng bài cho học sinh, nếu thầy giáo giảng mà học sinh không hiểu, thì thầy giáo không được tức giận mà phải giảng lại cho đến khi học sinh hoàn toàn hiểu rõ và nắm được mới thôi.”

Bán hàng cho phụ nữ
Nếu muốn kiếm tiền thì phải nhắm vào phụ nữ, nhắm vào số tiền mà phụ nữ giữ. Nếu nhắm vào đàn ông thì chỉ có thể vét được tiền lẻ trong túi họ. Đàn ông đến thế giới này là để kiếm tiền, nhưng không có nghĩa là họ có tiền. Quyền chi tiêu nằm trong tay phụ nữ.

Để bán hàng cho khách hàng nữ, có mấy điều ghi nhớ:

  • Đồ nguyên giá 100 đồng thì hạ xuống còn 98 đồng. Ba hàng số giảm xuống còn hai hàng số. Phụ nữ sẽ cảm thấy rẻ hơn rất nhiều.
  • Đàn ông sẽ bỏ ra 2 đồng để mua thứ mà anh ta cần ghi giá 1 đồng. Phụ nữ thì bỏ ra 1 đồng để mua thứ mà cô ta không cần ghi giá 2 đồng.
  • Chỉ cần một quảng cáo nói rằng công ty nào đó tổ chức bán giảm giá lớn ở nơi nào đó thì phần lớn phụ nữ sẽ chịu bỏ ra 30 đồng tiền xe đến để mua món đó chỉ hơn 10 đồng.
  • Thực phẩm không được nếm thử, phụ nữ cũng không phải dùng tay sờ nắn để kiểm định chất lượng của nó. Hàng hóa được bọc kín họ cũng không dám mua.
  • Hãy để phụ nữ chạm vào hàng hóa còn hơn là mất công nói nhiều để giới thiệu cho họ.
  • Đồ lớn bắt mắt hơn đồ nhỏ.
  • Vật thể động bắt mắt hơn vật thể tĩnh.
  • Màu tươi bắt mắt hơn màu tối.
  • Thứ có màu nền hài hòa bắt mắt hơn thứ có màu nền sặc sỡ.
  • Thứ có hình tròn bắt mắt hơn hình vuông.
  • Người thu hút hơn vật.
  • Hàng nước ngoài thu hút hơn hàng trong nước.
  • Thứ có liên quan đến khách hàng thu hút hơn thứ không có liên quan.

Kinh doanh có đạo đức
Trong “Talmud”, giao dịch thương mại trở thành một nguyên tắc đặc thù, có quy phạm hành vi vượt ra khỏi lĩnh vực cuộc sống bình thường. Hơn nữa, những điều mà các Rabbi bàn đến phần lớn là làm thế nào để trở thành thương nhân có đạo đức, chứ không phải là dạy người đời trở thành những con buôn lớn chỉ biết có lợi nhuận. Từ đó, người Do Thái đã hình thành truyền thống là thương nhân phải có đạo đức thương nghiệp.

Sự chính trực và can đảm làm những điều đúng đắn (act of rightousness) được thể bằng triết lý kinh doanh: Có lý thì không nhượng bộ.

Nguyên tắc đàm phán của người Do Thái
Người Do Thái coi đàm phán là một trò chơi có luật lệ. Do đó họ chơi theo luật và tin vào sự công tâm, cố gắng cùng với người có quyền quyết định ngồi ở hai bên bàn tiến hành công việc: tỉnh táo thăm dò tình hình của đối phương, đứng ở lập trường của đối phương để xét vấn đề, chừa cho đối phương đường lui, chú trọng trang phục khi đàm phán, ghi chép cẩn thận, tạo nên một bộ nguyên tắc đàm phán độc đáo.

  1. Chưa chuẩn bị đầy đủ thì không nên đàm phán. Trước khi đàm phán, phải tìm hiểu tình hình đối tác như thế nào, vấn đề nằm ở đâu, người quyết định là ai v.v..
  2. Có điều theo đuổi, có điều không. Làm sao để cả hai cùng thắng. Nếu chỉ nghĩ đến mình thì sẽ khiến cuộc đàm phán đi vào ngõ cụt, thậm chí ép đối tác rút lui khiến mình chẳng được gì.
  3. Giữ bí mật, dần lộ sự sắc sảo. Giữ bí mật của mình có thể làm cho đối tác không thể chuẩn bị chu toàn sách lược đối phó với mình. Dần lộ sự sắc sảo sẽ dễ làm cho đối tác chấp nhận ý kiến của mình.
  4. Là người lý trí trên bàn đàm phán. Đối với những thứ mình thích thì chỉ cần thể hiện thái độ, không được để lộ ý đồ sẽ giành bằng được. Nếu không, bạn sẽ phải trả giá đắt cho hành động này.
  5. Kiểm soát được mức độ sức ép gây ra cho đối phương. Trước hết, giữ thế cạnh tranh, có thể thay đổi phương án càng nhiều càng tốt. Thứ đến, xem đối phương là đối tác chứ không phải đối thủ, làm cho cả hai bên đạt được nhận thức chung một cách ôn hòa. Tiếp đến, làm cho đối phương cảm thấy nếu không theo điều kiện của bạn thì vấn đề sẽ rất nghiêm trọng.
  6. Tìm cách làm cho đối phương phá vỡ bế tắc. Bế tắc cần phải phá vỡ, nhưng phía phá vỡ bế tắc trước thường đều phải trả giá bằng sự hy sinh lợi ích của mình.
  7. Xác lập trước thời gian kết thúc đàm phán. Trong đàm phán, đơn phương tuyên bố thời gian chấm dứt đàm phán dễ khiến người ta cho là một sự đe dọa. Hai bên cùng thương lượng thời gian chấm dứt sẽ hòa dịu không khí đàm phán. Thời gian này được xác định sẽ có thể tăng nhanh tốc độ đàm phán, làm phấn chấn tinh thần những người tham dự.
  8. Để trợ thủ tranh luận với đối phương, làm rõ tình hình của đối phương.

Lựa chọn đối tác
Thế nào mới là đối tác thích hợp? Đáp án của người Do Thái rất rõ ràng. Họ muốn hợp tác với những người có tri thức uyên bác, thông minh giỏi giang và có thực lực hùng hậu. Hợp tác giống như tìm người yêu. Mỗi người có tiêu chuẩn và nhu cầu khác nhau, không thể đánh đồng.

Người Do Thái kiên trì một điều: người vô học, không có sở trường thì không thể hợp tác; người có thái độ nghi ngờ, không chân thành thì không hợp tác; người giỏi luồn lách, thấy gió bỏ chèo thì không thể sử dụng; người có tư tưởng cứng nhắc bảo thủ, không theo kịp thời đại và luôn làm theo ý mình thì không thể sử dụng.

Tiền dùng để làm giàu
Chỉ để dành tiền thôi thì không thể giàu có phải kiếm tiền mới trở thành người giàu có.

Để dành tiền chỉ có thể khiến người ta ngày càng trở nên nghèo khó. Bởi vì ngay cả tư duy của người đó cũng đã nghèo rồi. Kiếm tiền sẽ làm cho người ta trở nên giàu có. Bởi vì đó là tư duy của một người giàu có.

Tư duy và cảm nhận của một người quyết định tương lai của người đó có giàu hay không. Tư duy giàu có tạo ra của cải, thể hiện sự khảng khái và phóng khoáng. Còn tư duy nghèo nàn sẽ tạo ra sự nghèo nàn thật sự. Người ta mà nghèo quá thì suốt ngày chỉ chạy vạy để sinh tồn, không có thời gian để nghĩ đến bất kỳ việc gì khác, đầu óc không có khát vọng làm giàu, cũng mất đi điều kiện làm giàu.

Người Do Thái luôn theo đuổi sự nghiệp kinh doanh, bởi vì họ biết có kinh doanh mới kiếm được nhiều nhuận, mới triệt để thay đổi số phận nghèo khó của mình. Kiếm tiền là một tư duy trí tuệ, muốn trở thành một người giàu có thì không những phải có tư duy trí tuệ, mà còn phải dám hành động. Chỉ có như vậy mới bước vào hàng ngũ những người giàu.

Đối với một thương nhân, biết tính toán để kiếm tiền nhưng cũng phải biết tiêu tiền. Như thế mới thể hiện được sự tự tin, ung dung của thương nhân và xứng đáng là một thương nhân đúng nghĩa.

Giá trị của thời gian
Người thật sự biết quý trọng thời gian thì biết quý trọng cuộc sống, biết hưởng thụ cuộc sống — Talmud.”

Chúng ta không làm nô lệ cho thời gian mà làm chủ thời gian. Từ đó, chúng ta làm chủ cuộc sống.

Quan niệm về thời gian là ý nghĩa quan trọng trong nhân sinh quan của chúng ta. Chúng ta luôn nghĩ cách thu xếp thời gian cho hợp lý, sử dụng thời gian sao cho sáng tạo được giá trị lớn nhất, phong phú nhất trong cuộc sống. Chúng ta chỉ có một cơ hội để cảm nhận thời gian nên phải nắm bắt thật tốt cơ hội này. Do đó, quý trọng thời gian, thể nghiệm thời gian còn phải biết đối xử tốt với mọi người, phải đi tìm sự cân bằng về giá trị cuộc sống trong thời gian hữu hạn và cuộc sống hữu hạn, sao cho vừa không điên cuồng lao vào làm việc để nắm bắt từng phút giây mà xem nhẹ các lạc thú ở đời, vừa không chỉ nằm hưởng thụ lạc thú trần gian mà đánh mất thời gian, không thành công trong bất cứ việc gì.

Người Do Thái coi trọng thời gian. Một ý nghĩa khác của nó là nắm bắt từng phút từng giây có thể nắm được cơ hội kinh doanh, nắm quyền chủ động trong cạnh tranh. Quý thời gian như vàng cũng là trí tuệ kinh doanh của người Do Thái.

Đối với thương nhân Do Thái, thời gian là điều kiện không thể thiếu trong bất kỳ cuộc giao dịch nào, là tiền đề để đạt được mục đích kinh doanh. Khi ký hợp đồng với đối tác, phải tính toán kỹ khả năng giao hàng của mình, có thể thực hiện được hợp đồng theo chất lượng, số lượng và thời gian giao hàng mà khách hàng yêu cầu hay không, nếu làm được thì ký, nếu không thì không được làm liều.

Giá trị của thời gian còn thể hiện ở phương diện ra đúng thời điểm, trước đối thủ cạnh tranh, bán được giá cao và chiếm lĩnh thị trường. Trong thị trường cạnh tranh khốc liệt, người nào đi trước, sản phẩm chất lượng cao và kiểu mẫu mới, người đó sẽ giành được lợi ích kinh tế lớn hơn.

Giá trị của thời gian còn thể hiện ở toàn bộ quá trình kinh doanh. Hiệu quả kinh tế của một doanh nghiệp cao hay thấp còn liên quan tới mức chi phí của doanh nghiệp đó. Theo tisnht oán của rất nhiều doanh nghiệp, trong chi phí của họ có khoảng 70% chi cho lợi tức chiếm dụng vốn. Ví dụ một doanh nghiệp có doanh thu hàng năm là 200 tỷ đồng, mức quay vòng vốn của họ là hai lần, thì như vậy doanh nghiệp này mỗi năm bị chiếm dụng vốn 100 tỷ đồng. Nếu tính theo lợi tức ngân hàng 12%/năm thì một năm doanh nghiệp phải chịu khoản tiền lãi là 12 tỷ đồng. Nếu doanh nghiệp này nắm bắt được toàn bộ thời gian và quản lý hiệu quả để sự quay vòng vốn là bốn lần một năm thì lợi tức họ phải trả sẽ tiếp kiệm được 6 tỷ đồng. Nói cách khác, doanh nghiệp sẽ lãi thêm 6 tỷ đồng.

Tri thức và trí tuệ
Người Do Thái cho rằng tri thức tồn tại chỉ để rèn luyện trí tuệ. Nếu chỉ thu thập tri thức mà không sử dụng, thì học nhiều đến mấy cũng chỉ lãng phí mà thôi.

Trí tuệ quan trọng hơn tri thức
Nếu hỏi người Do Thái thứ quan trọng nhất đối với con người là gì thì họ sẽ trả lời là trí tuệ. Trí tuệ đến từ truyền thống tôn giáo của người Do Thái, cho nên nó chiếm vị trí quan trọng trong lòng họ.

Người Do Thái một mặt coi trọng tri thức. Mặt khác, họ rất coi trọng thái độ khiêm tốn. Cả hai đều quan trọng. Khi một người cả đời không quên học hỏi, đến khi được đại đa số người cho rằng người đó có trí tuệ, thì người đó sẽ được gọi là Taermide Heheimu. Trong xã hội, Taermide Heheimu không phải đóng thuế. Người Do Thái cho rằng các taermide heheimu đã bỏ ra rất nhiều tâm sức, có cống hiến to lớn cho cả xã hội nên không những không bắt họ đóng thuế mà còn giúp đỡ họ bằng sức mạnh của cả xã hội. Ngạn ngữ Do Thái có câu: “Heheimu và người giàu có ai vĩ đại hơn ai? Đương nhiên là Heheimu. Bởi vì Heheimu biết được giá trị của tiền bạc, nhưng người có tiền lại không biết rằng tiền bạc đáng quý.”

Taermide Heheimu có nghĩa là người tinh thông. Họ thông hiểu “Talmud” và “Giáo điều Do Thái.” Người Do Thái cho rằng, bất kỳ học hàm nào cũng không miêu tả được loại người có trí tuệ này. Đồng thời, những giáo trình chính quy cũng không thể đào tạo được những nhân tài như vậy.

Dân tộc Do Thái rất coi trọng học vấn. Nhưng so với trí tuệ thì người Do Thái coi học vấn cũng thấp hơn. Người Do Thái ví những người có trí thức mà không có trí tuệ là “con lừa cõng rất nhiều sách vở.” Đối với người Do Thái, loại người này dù có nhiều trí thức nhưng chẳng ích gì. Hơn nữa, trí thức phải dùng làm việc thiện. Nếu dùng trí thức để làm việc xấu thì sẽ có hại. Do đó, người Do Thái cho rằng tri thức tồn tại để rèn luyện trí tuệ. Nếu chỉ thu thập nhiều tri thức mà không sử dụng thì coi như chỉ chất đống sách vở mà không dùng, cũng là một sự lãng phí.

Người Do Thái cũng coi nhẹ việc học tập thông thường. Họ cho rằng học tập thông thường chỉ là một sự bắt chước chứ không phải là sáng tạo. Trên thực tế, học tập phải là nền tảng của suy nghĩ. Chính vì vậy, Talmud viết: “Học thức và năng lực đều rất giống cái đồng hồ bỏ túi có giá trị đắt nhất.”

Trí tuệ quan trọng hơn tri thức. Vậy trí tuệ bắt nguồn từ đâu? Theo người Do Thái, trí tuệ bắt nguồn từ học tập, quan sát và suy nghĩ. Điều này thật đơn giản và có vẻ sáo rỗng. Nhưng sự thực chứng minh rằng việc càng đơn giản càng khó thực hiện tốt.

(1) Học tập để rèn luyện tâm tính và tư duy của con người. Chỉ có không ngừng học tập thì mới giúp chúng ta ở vào trạng thái không ngừng đổi mới, hoàn thiện mình. Người Do Thái coi học tập là nghĩa vụ, coi giáo dục là “kính thần.” Chúng ta biết rằng tri thức bắt nguồn từ thực tiễn và kinh nghiệm. Nhưng cá nhân, do hạn chế bởi không gian, thời gian và cả bản thân, nên không thể việc gì cũng tự mình thực hiện và trải nghiệm, mà phần lớn là học tập kinh nghiệm của người khác. Sách vở rõ ràng là công cụ chủ yếu để chuyển tải kiến thức. Sách vở là kho tri thức mới, kỹ thuật mới và thông tin, giúp làm phong phú đầu óc và khơi ngợi tư duy. Do đó, học tập là điều kiện trước tiên để có trí tuệ.

Trong một thế giới đầy biến động, bất kỳ sự bảo thủ, trì trệ, thiếu tầm nhìn xa và không tiến bộ nào cũng đi đến thất bại. Người Do Thái biết rõ, không những cần bản thân không ngừng học tập mà còn ra sức bồi dưỡng tinh thần học tập cho thế hệ sau, để chúng trở thành thế hệ mới có tổ chức văn hóa cao, tri thức rộng, vui học tập và tiến bộ.

Về phương pháp học tập, người Do Thái cho rằng: (i) phải biết tìm tài liệu học tập, không được mù quáng; (ii) phải có trọng điểm, không được theo chủ nghĩa bình quân, phải học cho sâu, hiểu cho kỹ những phần quan trọng; (iii) học bằng đầu óc, là cấp trên, bạn có thể bảo cấp dưới đọc những cuốn sách bạn muốn đọc nhưng lại không có thời gian hoặc không đang phải bỏ ra quá nhiều thời gian, tinh lực để đọc, sau đó bảo họ tóm tắt nội dung chính yếu cho bạn; (iv) biết học hỏi người khác, giao lưu, thảo luận… Truyền hình, phát thanh, internet đều là những kênh thông tin học tập rất hiệu quả.

(2) Chỉ khi chúng ta dùng tri thức để quan sát thế giới, phân tích vấn đề thì nó mới là tri thức “sống”. Chỉ khi thông qua mối quan hệ giữa cảm quan và tư duy của con người với sự vật và vấn đề hoặc hiện tượng tồn tại thì tri thức mới thể hiện được giá trị của nó. Cho nên, quan sát là bước quan trọng trong việc học cách sử dụng tri thức.

(3) “Suy nghĩ” không đơn thuần chỉ là sự lý giải tri thức mà quan trọng hơn là một sự phản ứng đối với hoàn cảnh, đối với sự biến đổi. Hằng ngày, chúng ta phải trải qua sự thay đổi, luôn nghe và thấy vô vàn sự thay đổi. Thế nhưng, mấy người chúng ta phát hiện được quy luật của sự thay đổi và dự kiến được xu thế biến đổi? Phải nói là, biết suy nghĩ là mức độ cao nhất của trí tuệ. Nó chỉ có thể đạt được trên cơ sở tri thức được hiểu, nắm bắt và biết học một biết mười, đồng thời, còn phải dựa vào năng lực trực giác nhạy bén và tầm nhìn cũng như tấm lòng rộng rãi.

Người duy nhất đáng tin cậy là chính mình
Tư tưởng chỉ tin vào chính mình này hình thành ý thức độc lập của trẻ. Nó giúp trẻ em Do Thái từ nhỏ đã có ý thức độclập để tồn tại. Họ tin rằng, chỉ có chính mình mới nuôi sống được mình, và sống dựa vào người khác là một ảo tưởng ngây thơ. Do đó, trong bất kỳ điều kiện nào, họ cũng đều sinh tồn một cách ngoan cường. Dựa vào chính năng lực của mình cộng với ý thức sinh tồn mãnh liệt, đương nhiên họ có thể tìm được biện pháp kiếm tiền tốt để giải quyết vấn đề cuộc sống của mình. Suy nghĩ “chỉ có mình đáng tin cậy” cũng khiến họ cẩn thận khi xử lý mọi sự việc, suy nghĩ kỹ trước khi quyết định. Bởi vậy, người Do Thái rất ít khi mắc lừa.

Trong cuộc sống lang bạt lâu dài và bị người khác áp bức, dân tộc Do Thái đã ngoan cường tồn tại và luôn nghi ngờ người khác. Người kinh doanh thương mại muốn nắm được vận mệnh của mình trên thương trường thì trước tiên phải có ý thức độc lập sinh tồn đầy lý trí này. Ý thức này còn tạo nên lớp màng bao bọc tự bảo vệ của thương nhân Do Thái, giúp họ không rơi vào cạm bẫy của người khác.

Không mù quáng theo quyền uy
“Thần thánh hóa” một con người là đi ngược lại với truyền thống của người Do Thái. Người Do Thái kính trọng nhà lãnh đạo ưu tú nhưng không bao giờ làm cho người đó trở thành thần tượng bởi chỉ có G-d là thần linh cao quý nhất và duy nhất. Lãnh tụ cũng chỉ là một người trong dân chúng. Trong tâm thức người Do Thái, không một lãnh tụ nào tồn tại được độc lập mà phải nhờ những người xung quanh mới thể hiện được sự vĩ đại của mình. Nhà lãnh đạo giống như một mặt gương vì người đó có thể phản ánh được bộ mặt của quần chúng.

Không một người nào có thể giống G-d. Chỉ có G-d mới có quyền uy tuyệt đối. Do đó, trên thế giới này không có một dân tộc nào khác lãnh tụ và dân chúng bình đẳng như người Do Thái. Người Do Thái rất ghét những người a dua theo quyền uy. Cũng chính nhờ quan niệm này mà trong xã hội Do Thái, lãnh tụ có thể coi mình là một phần tử trong dân chúng, không dám đứng trên quyền lực mà chuyên tâm làm việc vì lợi ích dân tộc mình.

Thế nhưng, những người sản sinh ra lãnh tụ cũng vì thế mà biết phản tỉnh mình. Trong lòng người Do Thái, lãnh tụ và nhân dân có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Dân tộc mà lãnh tụ ưu tú lãnh đạo không phải là những người bướng bỉnh không chịu phục tùng. Do đó, những người ở tầng lớp dưới trước khi oán thán nhà lãnh đạo của mình đều cúi mình tự phản tỉnh. Vì có nhân dân như thế nào thì sẽ có lãnh tụ như thế ấy. Do vậy, người Do Thái là dân tộc xử lý mối quan hệ lãnh tụ – quần chúng hài hòa nhất trên thế giới. Chính vì xử lý tốt mối quan hệ này mà người Do Thái mới ngoan cường sinh tồn trong suốt gần 2000 năm bị bức hại.

One comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s